fbpx

Nhận biết con đường di chuyển của khu vực Đông Nam Á

Hôm nay, chúng ta sẽ cùng đi qua những con đường di chuyển cơ bản của cư dân Đông Nam Á chúng ta khi xưa. Ngoài ra, chúng ta còn sẽ nhận biết được quá trình thay đổi của khu vực Đông Nam Á như thế nào so với việc phát triển các nền kinh tế nhanh và tiêu biểu tại Đông Nam Á lúc này. Phải thật sự nhìn nhận, khu vực Đông Nam Á từng ngày trôi qua đã thay đổi đi rất nhiều, và mỗi năm trôi qua chúng ta đều thấy có sự phát triển về kinh tế chóng mặt như vũ bão. Nào xin mời bạn cùng mr Tâm Pacific đi theo dõi con đường phát triển đó là như thế nào trong những năm về trước đây nhỉ ?

Các con đường di chuyển của cư dân Đông Nam Á

Trên thế giới có những con đường di chuyển quen thuộc của cư dân từ vùng này đến vùng khác, như các khe núi, thung lũng, eo biển, gió, sông, hải lưu, … Những con đường này trước kia giữ vài trò chủ yếu trong lịch sử của sự tiếp xúc và truyền bá giữa các nền văn minh. Ví dụ các đồng cỏ Eurasia ( Âu – Á ) đã tạo nên con đường tơ lụa, con đường chè từ biển Đen đến Mông Cổ. Eo biển Bering ngày nay, mà xưa kia là eo đất là con đường mà người Bắc Á đã di chuyển sang Châu Mỹ. Ở Đông Nam Á cũng có những con đường di chuyển quan trọng : các thung lũng của bán đảo Đông Dương qua đó, những cư dân ở miền núi phía Nam Trung Quốc đi về Phương Nam. Các con đường đi theo gió mùa từ mùa hè đã đưa người đi từ Ấn Độ đến Indonesia, Trung Quốc. Mùa đông đi theo chiều ngược lại, từ Trung Quốc đến Indonesia và Ấn Độ. Đường đi của luồng hải lưu Nam Xích đạo đưa người đi từ Indonesia sang Madagascar.

Các eo biển ở miền Đông Indonesia, các tuyến đường Wallace (Wallace là một ngôi nhà tự nhiên học người Anh, đã nêu ra đường ranh giới lý thuyết của hệ động thực vật tiêu biểu Châu Á với của Úc, đánh dấu biên giới chung của vùng địa sinh vật giữa Châu Á và Châu Úc. Đường biên giới này thông thường đi giữa Bali và Lombok, giữa Celebes nay gọi là Sulawesi và Bomeo nay gọi là Kalimantan, hay từ phía Đông của Celebes và đến phía Đông của Philippines) và tuyến đường Weber (Weber là một nhà động vật học người Đức, đã nêu ra đường ranh giới lý thuyết giữa vùng địa sinh vật giữa Châu Á với Châu Úc, nằm gần sát dải đá ngầm Úc và Papuan Shelf. Đường Weber rất được ưa chuộng hơn đường Wallace) mà cách đây 70,000 năm tổ tiên của các thổ dân Úc đã đi qua.

Quá trình nhận biết về khu vực Đông Nam Á

Trong phần này, sẽ chia thành những mục con như thế giới cổ đại nhận biết Đông Nam Á, và Phương Tây cận đại nhận biết Đông Nam Á, và tên gọi của Đông Nam Á ngày nay như thế nào ? Đi kèm theo đó là những sự kiện chính làm cho Đông Nam Á được chú ý cho tới ngày hôm nay. Nào xin mời bạn cùng nghiên cứu tiếp theo phần này.

Thế giới cổ đại nhận biết Đông Nam Á

Ấn Độ từ xưa trong các sách Arthasastra của Kautilya, Jataka, Katha, Niddesa, và nhiều tác phẩm khác đã có nói đến Đông Nam Á. Các tên gọi thường dựa vào tên gọi Cây và Khoáng Sản như Suvarnabhumi là Đất Vàng, Savarnadvipa là Đảo Vàng, Takkola là Đất Hương Liệu, Narikeladvipa là Đảo Dừa, Karpuradvipa là Đảo Long Não, Yaavadvipa là Đảo Lúa Mạch. Trung Quốc thường dùng từ Nam Dương tức vùng biển phía Nam để chỉ Đông Nam Á. Vào thế kỷ thứ III, Trung Quốc thường dùng từ Côn Lôn (K’un lun) để chỉ các đảo và quốc gia trong vùng biển phía Nam. Từ K’un lun chỉ những vùng đất núi lửa có được một sức mạnh tiềm năng kỳ diệu, và cũng cho biết người dân ở đây đi lại trên biển thành thạo, dễ dàng tham gia vào việc buôn bán quốc tế.

Nhật Bản thì cũng dùng từ Nan Yo tức Nam Dương như Trung Quốc. Việt Nam vào thời nhà Nguyễn, gọi các nước vùng biển Đông Nam Á là Hạ Châu, gọi Indonesia là Giang Lưu Ba. Arập thời kỳ đầu gọi Đông Nam Á là Qumz. Sau dùng từ Waq – Waq để chỉ các vùng rộng lớn chưa được biết cụ thể từ Madagascar đến Nhật Bản, còn với Đông Nam Á thì gọi Zabag. Từ cuối thế kỷ VII, các thuyền Arập thường xuyên đến Đông Nam Á để tìm hương liệu và dược liệu. Hy Lạp và La Mã từ giữa thế kỷ III trước công nguyên, việc buôn bán quốc tế trên biển qua Đông Nam Á đã bắt đầu. Đến cuối thể kỷ II càng trở nên nhộn nhịp. Gọi Đông Nam Á là Chryse (Đất Vàng) hay Argyre (Đất Bạc) là những tên gọi rất quen thuộc của các tác giả cổ điển như Pomponius Mela.

Pomponius Mela là một nhà địa lý Latin vào thế kỷ I công nguyên, ông biên soạn cuốn sách địa lý De Situ Orbis hay Chorographia được xem là tài liệu quý về địa lý thời cổ. Những tên gọi thời cổ đại cho thấy Đông Nam Á là một vùng đất có nhiều của cải quý báu, có sức hấp dẫn đối với cư dân các vùng khác. Tuy chưa xác định rõ ranh giới địa lý và vị trí của Đông Nam Á, nhưng thế giới cổ đại đã xem Đông Nam Á là một vùng sản xuất những sản phẩm kỳ lạ, hương liệu và dân cư là những người đi biển thành thạo và can đảm.

Phương Tây cận đại nhận biết Đông Nam Á

Đến thời kỳ cận đại, đặc biệt là từ thế kỷ XVII đến XVIII, sách báo Phương Tây đã có những ghi chép ban đầu của những người thám hiểm, nhà buôn hoặc giáo sĩ về Đông Nam Á. Tiếp đến là các nhà khoa học Phương Tây đi sâu nghiên cứu lịch sử, xã hội, văn hóa của các nước vùng này. Những tài liệu họ thu thập được và kết quả khoa học rút ra đều có một giá trị to lớn. Người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh đã đến Đông Nam Á đầu tiên, Họ nghiên cứu về Indonesia, Philippines, và chú ý đặc biệt đến ảnh hưởng của Ấn Độ ở đấy. Người Anh đã thành lập Công Ty Đông Ấn từ năm 1600, đến năm 1832 thì lập Royal Asiatic Society (Hội Hoàng Gia Châu Á). Sau Ấn Độ và Trung Quốc, Anh cũng chú ý nghiên cứu một số nước Đông Nam Á khác như Myanmar, ThaiLand, Malaysia.

Người Pháp muốn xây dựng ngành Đông Phương Học thành một khoa học thực sự. Pháp là nước có khá nhiều trung tâm nghiên cứu và tạp chí về Đông Nam Á. Pháp có Ecole Francaise D’Extreme – Orient (= Trường Viễn Đông bác cổ) viết tắt là EFEO ra đời năm 1901 tại Hà Nội. Nhiệm vụ của EFEO là phát hiện, sưu tầm, khai thác và nghiên cứu các di tích khảo cổ, sưu tập các văn bản chép tay và nghiên cứu các ngôn ngữ ở ba nước là Việt Nam, Laos, và Cambodia. Năm 1907, được trao thêm nhiệm vụ bảo trì di tích Angkor ở Cambodia. EFEO đã xây dựng Viện Bảo Tàng và Thư Viện ở Hà Nội. EFEO có tạp chí khoa học là Bulletin d\’Ecole Francaise d\’Extreme – Orient, viết tắt là BEFEO.

Người phương Tây nhận thấy vị trí quan trọng của Đông Nam Á, nên đã tìm cách kiểm soát trực tiếp, nhằm nắm độc quyền buôn bán ở đây. Sự đô hộ của các thế lực thực dân về sách vở, tri thức, học vấn trong một thời kỳ khoảng 300 năm, cũng như sự thống trị chính trị trong khu vực đã chia cắt tính thống nhất khu vực của Đông Nam Á về các mặt văn hóa, chính trị, kinh tế. Mỗi nước thực dân Phương Tây chỉ chú ý nước bị đô hộ của mình, và làm cho nó bị lệ thuộc vào chính quốc, chứ không chú ý tính chất chung của khu vực. Họ nghiên cứu nước bị đô hộ chứ không nghiên cứu cả khu vực. Ít có nghiên cứu so sánh.

Nhưng cũng kỳ lạ, chính vào thời thuộc địa mà những chi tiết về sự giàu có của văn hóa Đông Nam Á mới bắt đầu được thế giới biết đến. Việc tìm thấy lại và tu sửa những di tích tôn giáo lớn như Angkor ở Campuchia, hay Pagan ở Myanmar, hay Mỹ Sơn ở Việt Nam, hay Prambanan và Borobudur ở Indonesia, việc nghiên cứu về xã hội nông dân, về ngôn ngữ và về các mặt văn hóa khác của các nước Đông Nam Á, của các học giả Châu Âu đã cung cấp cơ sở cho sự hiểu biết chung về khu vực Đông Nam Á ngày nay.

Tên gọi Đông Nam Á ngày nay

Trước chiến tranh thế giới thứ hai, nước đầu tiên đặc biệt chú ý nghiên cứu Đông Nam Á là Nhật Bản, nhằm phục vụ cho chính sách Đại Đông Á của họ. Nhưng Đông Nam Á thật sự bước vào lịch sử thế giới là từ chiến tranh thế giới thứ hai. Vị trí Đông Nam Á từ nay đã khác. Nghiên cứu Đông Nam Á không phải chỉ nhằm dựng lại các vương triều cổ đại, các nền văn minh vang bóng một thời, mà còn vì nó là không thể vắng mặt được trong đời sống kinh tế chính trị của thế giới hiện đại. Điều đặc biệt đáng chú ý là từ nay, không phải từng nước được nghiên cứu riêng rẽ, mà Đông Nam Á được xem xét như một khu vực lịch sử văn hóa kinh tế chính trị thật sự. Nhiều lý thuyết khoa học nhằm chứng minh Đông Nam Á là một khu vực văn hóa ngày càng được công nhận rộng rãi.

Tên gọi Đông Nam Á cũng chính thức ra đời từ đây. Theo D.G.E Hall viết trong cuốn A History of South – East Asia (Lịch sử Đông Nam Á) thì tên gọi Đông Nam Á được sử dụng rộng rãi trong chiến tranh thế giới thứ hai. Trong tiếng Anh, tên Đông Nam Á lúc đầu viết ba chữ rời nhau là South East Asia, sau thêm gạch nối giữa hai từ South – East, và cuối cùng mới viết liền hai chữ Southeast. Điều này, phản ảnh nhận thức ngày càng rõ về tính chất khu vực của Đông Nam Á. Tên gọi Đông Nam Á thật sự được sử dụng từ khi nước Anh chính thức thành lập Southeast Asia Military Command (Bộ chỉ huy quân sự Đông Nam Á) năm 1943 trong chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Tên gọi Đông Nam Á xuất hiện tiếp ngay sau khi chiến tranh kết thúc trong bản Chỉ Thị Kháng Chiến Kiến Quốc của Trung Ương Đảng Cộng Sản Đông Dương ngày 25/11/1945. Sau đó, tên gọi Đông Nam Á lại được South East Asia League (Liên minh Đông Nam Á) sử dụng vào tháng 9/1947 gồm Thailand và ba nước Việt – Miên – Lào. Nhưng liên minh đã sớm tan rã do ở Thái Land phái quân nhân chống cộng lên nắm chính quyền thay thế cho phái tự do.

Xem xét Đông Nam Á với tính cách là một khu vực chỉ thực sự bắt đầu từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Theo Lauriston Sharp trong Chương Trình Đông Nam Á của Đại Học Cornell những năm 1950 – 1975 thì chiến tranh đã chứng minh tính cận thị và địa phương của truyền thống giáo dục Phương Tây. Khi chiến tranh chấm dứt, người ta mới thấy cần phải mở rộng ra thế giới còn lại. Đại học Yale và Đại học Cornell ở Mỹ là nơi nghiên cứu liên kết nhiều bộ môn, và ở đây người ta không những nghiên cứu về từng nước, mà còn nghiên cứu Đông Nam Á với tư cách là một khu vực. Điều này là rất mới mẻ.

Một số tổ chức nghiên cứu quốc tế đã chú ý phương hướng nghiên cứu khu vực như Đông Nam Á, Châu Á Thái Bình Dương. Xu hướng này rất có triển vọng. Gần đây, việc nghiên cứu về khối ASEAN rõ ràng đã đi theo hướng này. Trong thời hiện đại, một số tên gọi của đất đai lãnh thổ Đông Nam Á có thay đổi. Năm 1989, tướng Ne Win thay tên gọi nước là Burma (Miến Điện) thành Myanmar. Kampuchea nay gọi là Cambodia. Borneo nay gọi là Kalimantan. Celebes nay gọi là Sulawesi. Java nay gọi là Jawa. Lesser Sunda nay gọi là Nusa Tenggara. Sumatra nay gọi là Sumatera.

Những sự kiện chính làm cho Đông Nam Á được chú ý

Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai với Đông Nam Á

Lần đầu tiên Đông Nam Á tham gia trực tiếp vào cuộc chiến tranh thế giới. Nhật Bản tiến quân chiếm đóng Quảng Đông rồi đảo Hải Nam, đảo Trường Sa, nhằm hướng tới các nước Đông Nam Á. Tháng 11 năm 1939, Nhật Bản tiến đến Quảng Tây, khống chế Đông Dương thuộc Pháp. Pháp và Hà Lan bị thua Đức, không đủ quan để đối phó với Nhật Bản ở Đông Nam Á. Nhật Bản lần lượt chiếm đóng Đông Dương. Nhật Bản bất ngờ tấn công Trân Châu Cảng làm hải quân Mỹ thất bại nặng nề và Nhật Bản được tự do chinh phục Đông Nam Á. Nhật Bản tấn công chớp nhoáng Thailand, Philippines, Singapore, Miến Điện (tức Myanmar ngày nay), Bali, Sumatera, Jawa. Quân Đồng Minh đã họp Hội Nghị Quesbec vào tháng 8 năm 1943 và lập ra South – East Asia Command (Bộ tư lệnh Đông Nam Á) để chuẩn bị phản công Nhật Bản. Ngày 26 tháng 7 năm 1945 tại Potsdam ở Đức, Đồng Minh công bố điều kiện cho Nhật Bản đầu hàng. Ngày 09 tháng 08 quả bom nguyên tử thứ hai ném xuống Nagasaki. Qua ngày hôm sau, Nhật Bản chấp nhận điều kiện đầu hàng.

Cuộc chiến tranh ở Việt Nam

Từ tháng 8 năm 1940, Nhật Bản đòi Pháp cho mình được sử dụng các hải cảng, sân bay và đô thị ở Đông Dương để di chuyển quân lực, rồi đòi Pháp phải nhượng đất. Đến ngày 09 tháng 03 năm 1945, Nhật Bản làm cuộc đảo chính cướp chính quyền của Pháp ở Việt Nam. Ngày 19 tháng 8 năm 1945, Việt Nam làm cuộc Cách Mạng Tháng Tám thành công. Nhưng thực dân Pháp đã quay lại xâm lược nước ta một lần nữa. Chiến thắng vĩ đại ở Điện Biên Phủ đã kết thúc vẻ vang cuộc Kháng chiến chống thực dân Pháp. Thắng lợi của Cách Mạng Tháng Tám và cuộc Kháng Chiến Chống Pháp mở đầu cho thời kỳ sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới.

Thay chân thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đã biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Mùa xuân năm 1975, Việt nam giành được thắng lợi trọn vẹn trong cuộc chiến tranh với đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước. Cuộc chiến tranh liên tục và thắng lợi chống phát xít Nhật Bản, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của Việt Nam đã làm cho thế giới thấy rõ vai trò to lớn của Đông Nam Á trên vũ đài quốc tế.

Sự hình thành và hoạt động của khối Asean

ASEAN là kết quả của một quá trình hình thành khu vực Đông Nam Á, từ SEAFET ( Hiệp Ước Hữu Nghị và Kinh Tế Đông Nam Á) qua ASA (Hội Đông Nam Á), đến MAPHILINDO ( gồm Malaysia, Philippines, Indonesia). Ngày 08 tháng 08 năm 1967, Association Of Southeast Asia Nations, gọi tắt là ASEAN (Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á) ra đời. Mục tiêu là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa trong khu vực, hợp tác bình đẳng và giúp đỡ lẫn nhau trong nhiều lĩnh vực nhằm tăng cường cơ sở cho một cộng đồng thịnh vượng, hòa bình và ổn định của các quốc gia Đông Nam Á. Dần dần, cùng với sự phát triển của thế giới, ASEAN đã tăng cường mối quan hệ hợp tác sâu rộng và toàn diện, mở ra khả năng mới cho mỗi nước cũng như cho Hiệp Hội, tạo nên những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển chung của toàn bộ khu vực.

Cuộc gặp gỡ Á Âu (ASEM) lần thứ nhất vào tháng 3 năm 1996, cũng như sự tham gia của một số nước thành viên ASEAN vào APEC càng nâng cao vị thế của ASEAN trong cộng đồng quốc tế. Trên phạm vị quốc tế, ASEAN đã phát huy vai trò của một tổ chức khu vực có vị thế chính trị, tiềm năng kinh tế và văn hóa đầy bản sắc. Uy tín quốc tế của ASEAN được nâng cao, mối quan hệ với EU, APEC và các khu vực khác được tăng cường, tiếng nói của ASEAN là không thể thiếu được trong nhiều công việc của thế giới, lập trường thống nhất của ASEAN trong vấn đề an ninh là điều phải tính đến.

Kinh tế phát triển nhanh ở Đông Nam Á

Châu Á về tổng thể được coi là khu vực năng động nhất của thế giới trong thập kỷ qua. Trong đó, ASEAN được coi là khu vực kinh tế năng động nhất. Theo đánh giá của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), tất cả các nước ASEAN đều duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, từ 6% ở Philippines đến 9,5% ở Việt Nam vào năm 1998. Tuyên bố về viễn cảnh hợp tác chuyên ngành ASEAN 2020, nhằm mục tiêu xây dựng một ASEAN có khả năng cạnh tranh về công nghệ, một ASEAN xanh và sạch, phát triển bền vững và một ASEAN đoàn kết và tương trợ xã hội. ASEAN cũng tăng cường đầu tư vào nghiên cứu và phát triển tới mức cạnh tranh được với các nước G8. ASEAN cũng tăng cường phát triển mạng lưới cơ sở, trung tâm nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, dịch vụ khoa học công nghệ cho các ngành công nghiệp dưới dạng xác định tiêu chuẩn, phân tích và kiểm tra sản phẩm nhằm đảm bảo các sản phẩm đạt tiêu chuẩn và chất lượng quốc tế.

Nguyễn Tấn Đắc
https://tampacifictravel.com

Các tìm kiếm liên quan đến khu vực đông nam á

  • đông nam á lục địa
  • khu vực đông nam á địa 11
  • diện tích các nước đông nam á
  • các nước đông nam á và thủ đô
  • đặc điểm tự nhiên khu vực đông nam á
  • khu vực đông nam á có bao nhiêu quốc gia
  • các quốc gia đông nam á wikipedia tiếng việt
  • phần đất liền của khu vực đông nam á mang tên là
  • danh sách tour mới nhất hot nhất khu vực đông nam á
  • quốc gia có diện tích lớn nhất trong khu vực đông nam á là

 

Link topic https://tampacifictravel.com/nhan-biet-con-duong-di-chuyen-cua-khu-vuc-dong-nam-a.html

error: Alert: Content is protected !!