fbpx

Một số khái niệm chiến lược và thành phần quản trị chiến lược

Trong bài viết ngày hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau đi tìm hiểu một số khái niệm về chiến lược, và đi tìm hiểu về nguồn gốc cũng như định nghĩa về chiến lược là như thế nào ? Sau đó, chúng ta sẽ tiếp tục đi tìm hiểu thêm về khái niệm của quản trị chiến lược và phương thức hành động cũng như mục đích cơ bản của quản trị chiến lược. Dựa vào đó, chúng ta sẽ có một chút kiến thức thêm về chiến lược cho mình, trước khi tiếp tục đọc và nghiên cứu các bài viết khác hiện tại liên quan tới chiến lược trong chuỗi seri bài viết về Quản Trị Chiến Lược cho các Tổ Chức Kinh Doanh Du Lịch trên website này.

Nguồn gốc của khái niệm về chiến lược là gì ?

Khái niệm về chiến lược có từ thời Hy Lạp cổ đại. Thuật ngữ này vốn có nguồn gốc sâu xa từ quân sự, xuất phát từ Strategos, nghĩa là vai trò của vị tướng trong quân đội để chống lại kẻ thù. Quan điểm chủ yếu của chiến lược là một bên đối phương có thể đè bẹp đối thủ, thậm chí là đối thủ mạnh hơn, đông hơn, nếu họ có thể dẫn dắt thế trận và đưa đối thủ vào trận địa thuận lợi cho việc triển khai các khả năng của mình. Từ năm 1960, phạm vi chủ đề chiến lược đã được mở rộng sang lĩnh vực kinh doanh thương mại, và bắt đầu được giảng dạy rộng rãi tại các trường kinh doanh. Trong kinh doanh, các tổ chức phải cố gắng vượt trội so với đối thủ trên những yếu tố khác nhau như marketing, tài chính, nhân lực, …

Các khái niệm về chiến lược là gì ?

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về chiến lược. Theo như James B. Quinn (1980) thì : “Chiến lược là sự tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách, và các chuỗi hoạt động của doanh nghiệp thành một tổng thể”. Còn theo Fred R. David (1995) thì : “Chiến lược là những phương tiện đạt tới những mục tiêu dài hạn”. Còn theo Kenneth R. Andrews (1987) thì : “Chiến lược là kế hoạch kiểm soát và sử dụng nguồn lực của tổ chức như con người, tài sản, tài chính, … nhằm mục đích nâng cao và bảo đảm những quyền lợi thiết yếu của mình”. Còn theo Michael E. Porter (1996) thì : “Chiến lược là việc tạo ra một sự hài hòa giữa các hoạt động của một công ty, qua đó sáng tạo ra vị thế có giá trị và độc đáo. Cốt lõi của chiến lược là tạo ra sự khác biệt trong cạnh tranh. Theo ông, chiến lược là sự tạo ra vị thế độc đáo, và có giá trị bao gồm sự khác biệt, sự lựa chọn mang tính đánh đổi, nhằm tập trung nhất các nguồn lực để từ đó tạo ra ưu thế cho tổ chức”.

*** Bạn có thể xem thêm bài viết :

Theo Johnson và Scholes (1999) thì : “Chiến lược là việc xác định định hướng và phạm vi hoạt động của một tổ chức trong dài hạn, ở đó tổ chức phải giành được lợi thế cạnh tranh thông qua việc kết hợp các nguồn lực trong một môi trường nhiều thay đổi, nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường và đáp ứng mong muốn của các tác nhân có liên quan đến tổ chức”. Theo Mintzberg (1987) thì với 5 chữ P nghĩa là : “Kế Hoạch (Plan) là một chuỗi các hành động dự định có ý thức, tiến trình của nó được kiểm soát từ khởi đầu đến trước khi quyết định kết thúc. Khuôn Mẫu (Pattern) là sự kiên định về hành vi theo thời gian, dự định hay không dự định, khuôn mẫu chỉ xãy ra như kết quả của một hành vi kiên định. Bố Trí (Position) là sự phù hợp giữa tổ chức và môi trường của nó, nói cách khác, tổ chức mong muốn đạt được hoặc bảo vệ một vài vị trí nào đó trong thị trường. Triển Vọng (Perspective) là một cách thức về văn hóa, sự tin tưởng, cảm nghĩ, của một nhóm người để nhận thức thế giới. Thủ Thuật (Ploy) là một hành động chiến lược cụ thể trong một tình huống cụ thể để vượt lên trên đối thủ”.

Điều quan trọng trong 5P của Mintzberg là không nhìn mỗi P theo cách nhìn riêng biệt với từ khác, mà phải nhìn chúng trong mối quan hệ hài hòa. Năm 1962, giáo sư Chandler của trường Harvard đưa ra định nghĩa chiến lược là : “Chiến lược là sự xác định các mục tiêu và mục đích dài hạn của doanh nghiệp, và sự chấp nhận chuỗi các hành động cũng như phân bổ nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu này”. Định nghĩa này, đã được sử dụng rộng rãi vì nó chỉ ra những điều tốt nhất mà chiến lược có được.

Khái niệm về quản trị chiến lược là gì ?

Quản trị chiến lược là một bộ các quyết định quản trị và các hành động xác định hiệu suất dài hạn của một công ty. Quản trị chiến lược bao gồm các hành động liên tục, phân tích môi trường cả bên trong lẫn bên ngoài, xây dựng chiến lược thực thi chiến lược, và đánh giá kiểm soát chiến lược. Quản trị chiến lược có nguồn gốc là các chính sách kinh doanh. Tuy nhiên, khác với quản trị chiến lược, chính sách kinh doanh có định hướng quản trị chung, chủ yếu hướng vào môi trường bên trong tổ chức, quan tâm đến sự phối hợp hoạt động giữa các chức năng của tổ chức. Trong khi đó, quản trị chiến lược không chỉ quan tâm đến sự phối hợp các chức năng bên trong của tổ chức, mà còn nhấn mạnh hơn vào phân tích các tác động môi trường bên ngoài với chiến lược. Do đó, người ta sử dụng thuật ngữ quản trị chiến lược thay cho chính sách kinh doanh.

Ba thành phần của chiến lược là gì ?

– Mục đích cơ bản trong dài hạn : Mục đích này phải đơn giản, thống nhất và lâu dài. Mục tiêu này liên quan đến các hoạt động của chiến lược và mục tiêu chiến lược có thể đạt đến. Không có mục tiêu thì không có điều xảy ra, nếu không biết đi đâu thì ta sẽ không biết chọn phương tiện nào để đến đó.

– Phương thức hành động chiến lược : Việc này liên quan đến những hành động được dùng để đi đến những mục tiêu đã đặt ra trước đó. Nghĩa là việc xây dựng chiến lược dựa trên sự hiểu biết sâu rộng trong lĩnh vực đang hoạt động. Mục tiêu của bạn là đến Thái Lan hay đến Singapore Malaysia hay đến Campuchia hay đến Bali, thì khi đi đăng ký tour du lịch từ Thành Phố Hồ Chí Minh. Sẽ có rất nhiều tiến trình hành động khác nhau, bạn có thể đi bằng tàu lữa, xe hơi, máy bay, oto. Bạn có thể lưu lại tại vương quốc Thái Lan vài ngày hay một ngày. Bạn có thể đặt chỗ từ các đại lý du lịch lữ hành hoặc đặt trực tiếp với công ty du lịch. Như vậy, có một dãy những lựa chọn và bạn là người quyết định nên đưa ra sự lựa chọn nào là hợp lý trong tình trạng hiện tại của chính mình.

– Phân bổ các nguồn lực trong chiến lược : Điều này, có liên quan đến việc đánh giá khách quan các nguồn lực của tổ chức. Nghĩa là tiến trình hành động phải liên quan, đến cấp độ tương xứng của nguồn lực sẵn có và có thể có. Nếu không, mục đích đề ra sẽ không đạt được. Từ đây, chiến lược đi đến Thái Lan của bạn sẽ có 3 bước : Mục đích của bạn là đi đến Thái Lan du lịch vào một ngày, giờ nhất định. Bạn cho rằng lựa chọn tốt nhất là đi máy bay từ Thành Phố Hồ Chí Minh và bạn đã đặt vé máy bay ở một hãng lữ hành. Hành động đi đến Thái Lan du lịch sẽ không thể có nếu họ không có nguồn lực như máy bay, phi công giỏi, sân bay, và bạn không có đủ tiền mua vé máy bay và một số thứ khác. Rõ ràng, nếu không có nguồn lực thì mục đích đặt ra cũng sẽ không thực hiện được.

Nguồn lực đầu vào, còn gọi là các yếu tố của sản xuất, bao gồm : nguồn lực tài chính dùng để đầu tư và hoạt động cho một tổ chức, cổ phiếu, trái phiếu, … Nguồn nhân lực là những người có kỹ năng lao động phù hợp để làm tăng thêm giá trị sản phẩm, dịch vụ. Nguồn lực hữu hình như nhà xưởng, dây chuyền sản xuất, công cụ, dụng cụ, … Nguồn lực vô hình tuy không thể thấy được nhưng nó là chủ yếu cho việc kinh doanh thành công như quyền tác giả, nhãn hiệu đăng ký bảo hộ, tên thương hiệu, bí quyết kinh doanh, …

Các cấp độ quyết định chiến lược là gì ?

Quyết định quản trị chiến lược trong bất kỳ một tổ chức nào, thường được phân thành 3 cấp độ là Chiến Lược, Chiến Thuật, và Thực Thi. Trong đó, quyết định Chiến Lược ở cấp độ cao có xu hướng định hướng hoạt động cho các cấp độ thấp hơn, sau đó là tới Chiến Thuật, và cuối cùng là Thực Thi. Điều này cho thấy, việc ra quyết định là không thường xuyên. Trong khi ở đáy tháp là một khoảng rộng hơn cho thấy các quyết định về thực thi là thường xuyên hơn. Về thời gian, quyết định chiến lược là ít và lâu còn quyết định thực thi được đặt ra hàng ngày, hàng tuần. Đối với mỗi quyết định chiến lược có thể có hàng trăm quyết định thực thi, còn quyết định chiến thuật thì nằm ở khoảng giữa của 2 cấp độ này.

Cấp độ Chiến Lược

Quyết định chiến lược thường có liên quan đến những lợi thế cạnh tranh trong dài hạn, mà tổ chức có thể đạt được trong đó, bao gồm việc xác định các mục tiêu dài hạn của tổ chức, xây dựng, thẩm định, lựa chọn và giám sát việc thực thi các chiến lược được thiết kế để đạt được những mục tiêu đã đề ra. Những chiến lược được quyết định bởi những nhà quản trị cấp cao, thường rất đơn giản, và có tác động đến toàn bộ tổ chức, trong một giai đoạn rõ ràng. Cơ sở đề ra những quyết định này rất phức tạp, và thường dựa trên những thông tin chưa chắc chắn, vì có một khối lượng lớn những yếu tố của các môi trường khác nhau, đồng thời việc thu thập thông tin để lập kế hoạch càng dài nên sự chắc chắn là điều không thể.

Chính vì vậy, nhà quản trị ở cấp độ chiến lược cần phải có nhiều kỹ năng tư duy, khả năng phán đoán để đánh giá các tác động của các yếu tố từ môi trường bên ngoài, môi trường bên trong tổ chức đến hoạt động sản xuất, cung cấp dịch vụ của tổ chức và những cách có thể thêm vào để điều chỉnh những ảnh hưởng đó. Hãng hàng không Southwest đạt được thành công nhất trong số các hãng hàng không ở Mỹ, là do chiến lược của nó rất đơn giản : “Đáp ứng nhu cầu di chuyển đoạn đường ngắn của khách hàng với chi phí tương tự với việc tự lái xe”. Nguyên tắc này đưa ra một chiến lược cụ thể, rõ ràng, đồng thời cho phép nhân viên thực hiện chiến lược theo những cách đổi mới phù hợp nhất.

Cấp độ Chiến Thuật

Quyết định chiến thuật có liên quan đến việc mục tiêu của tổ chức được đáp ứng đến mức độ nào, và thực thi chiến lược ra sao. Chúng được dựa trên chiến lược tổng thể, có liên quan đến nó và được điều chỉnh cho phù hợp. Những quyết định chiến thuật thường được quyết định bởi các nhà quản trị đơn vị kinh doanh, nhà quản trị chức năng của bộ phận kinh doanh hay vùng. Chúng có tác động đến một phần của tổ chức. Thời gian thực thi thường là trung hạn, mức độ phước tạp trung bình và thường chứa đựng một vài điều không chắc chắn nhưng không giống hẳn ở cấp độ chiến lược.

Cấp độ Thực Thi

Thực thi các quyết định có liên quan đến mục tiêu ngắn hạn trong kinh doanh và nó được quản trị hàng ngày. Chúng phải được dựa trên chiến lược và những chiến thuật của tổ chức. Những quyết định này thường do những nhà quản trị cấp thấp, hoặc cấp độ giám sát đưa ra, chúng thường không phức tạp và được dựa trên mức độ cao về tính chắc chắn. Các cấp độ chiến lược này khác nhau ở : mục tiêu ra quyết định, phạm vi và tầm hạn quản trị, giới hạn về thời gian, độ tin cậy, sự phức tạp. Một khi các mục tiêu của các cấp chiến lược được thiết lập, việc thực thi các mục tiêu phải đặt trong cách thức mà nó góp phần để hoàn thành chiến thuật, và mục tiêu chiến lược. Nói cách khác, là các quyết định thi hành phải đúng ở mức độ cao nhất. Đặc biệt, khác với các ngành sản xuất, trong các tổ chức du lịch, yếu tố cung cấp dịch vụ hoàn hảo là quan trọng, các nhà quản trị cấp cao có thể thường ra những quyết định thực thi.

PGS. TS Hà Nam Khánh Giao
https://tampacifictravel.com

Các tìm kiếm liên quan đến quản trị chiến lược

  • ví dụ về quản trị chiến lược
  • mô hình quản trị chiến lược
  • quá trình quản trị chiến lược
  • sách quản trị chiến lược pdf
  • vai trò của quản trị chiến lược
  • bản chất của quản trị chiến lược
  • slide bài giảng quản trị chiến lược
  • quản trị chiến lược trong doanh nghiệp
  • các loại chiến lược trong quản trị chiến lược
  • tại sao các doanh nghiệp phải quản trị chiến lược
  • tổ chức quản trị kinh doanh điểm đến du lịch

Link topic https://tampacifictravel.com/mot-so-khai-niem-chien-luoc-va-thanh-phan-quan-tri-chien-luoc.html

error: Alert: Content is protected !!