fbpx

Khu vực văn hóa Đông Nam Á có những gì đặc sắc nhất ?

Khu vực Văn Hóa Đông Nam Á có rất nhiều đặc trưng văn hóa nổi bật nhất. Nhưng làm sao để bạn khám phá hết tất cả nền văn hóa ở các nước Đông Nam Á trong thời điểm hiện tại này được. Vậy thì, bạn có thể bỏ ra chút ít thời gian quý báu của mình, để đọc để nghiệm và thử xác định xem thử khu vực văn hóa Đông Nam Á có những điều gì hay nhỉ ?

Ngoài ra, chúng ta cùng nhau đi khám phá thêm những đặc điểm địa lý ảnh hưởng đến văn hóa Đông Nam Á ngày nay như thế nào ? Đi kèm theo đó, là những con đường di chuyển của cư dân Đông Nam Á ra sao ? Để từ đó, đưa ra được cho bạn những cái nhìn, những phân tích xuyên suốt quá trình nhận biết về khu vực Đông Nam Á của bạn như thế nào ? Nào xin mời bạn cùng mr Tâm Pacific Travel đi khám phá thêm thông tin hữu ích này nhé !

Thử xác định khu vực văn hóa Đông Nam Á như thế nào ?

Khu vực văn hóa nói chung được xác định bằng những yếu tố sau : nhóm người, tiếng nói, kinh tế, văn hóa. Theo đó, khu vực văn hóa Đông Nam Á được xác định dựa vào những đặc điểm chung như sau : Nhóm Người ( thuộc người Việt, Thái, Mã Lai, Miến Điện, Khmer, … khác biệt với người Hoa và người Ấn Độ là hai giống người ở gần họ ). Tiếng Nói ( thuộc các nhóm ngôn ngữ đơn lập ). Kinh Tế ( chủ yếu trồng lúa, nhất là lúa nước, nuôi trâu ). Văn Hóa ( thiên về nữ, có tín ngưỡng vạn vật hữu linh, thờ thần đất, đúc trống đồng, … ). Có hai khu vực Đông Nam Á, nếu xét theo bản đồ chính trị hiện đại thì Đông Nam Á có 11 nước, bao gồm : Myanmar, Thailand, Laos, Việt Nam, Singapore Malaysia, Bali Indonesia, Philippines, Campuchia, Brunei, Đông Timor.

Như vậy, Đông Nam Á chính trị hiện đại nằm trong biên giới hiện tại của 11 nước trên. Nhưng nếu xét về mặt văn hóa tộc người, thì khu vực Đông Nam Á rộng hơn. Nó có thể bao gồm vùng Nam Trung Quốc, vùng Đông Bắc Ấn Độ, thậm chí gồm các quần đảo ở Thái Bình Dương, và cả đảo Madagascar ở phía Đông Nam Châu Phi, … Vậy thì, ngoài lãnh thổ của 11 nước Đông Nam Á hiện nay, thì văn hóa Đông Nam Á còn có mặt ở những nơi nào khác nữa ?

Nam Trung Quốc ( Hoa Nam )

Trên lãnh thổ Trung Quốc ngày nay, có hai con sông chảy từ Tây sang Đông phân chia thành hai vùng : Hoàng Hà chảy ở phía Bắc, tạo thành đất gốc của người Hoa (Hán), ở đây đã xuất hiện các triều đại Hạ, Thương, Chu, rồi Tần, Hán, Tùy, Đường, … vùng lãnh thổ này được gọi là Hoa Bắc. Dương Tử Giang ( Trường Giang ) chảy ở phía Nam, tạo thành biên giới phía Bắc của một vùng lãnh thổ quen thuộc gọi là Hoa Nam ở bên ngoài đất gốc của người Hoa. Vùng Hoa Nam vốn là lãnh thổ của những tộc người mà Trung Quốc xưa gọi là Bách Việt, không thuộc tộc người Hoa (Hán) mà thuộc về tộc người Đông Nam Á. Đất Hoa Nam chia thành hai vùng nhỏ :

Giang Nam nằm ngay phía Nam sát sông Dương Tử, là một khu vực ôn đới và cận nhiệt đới, tức là một vùng nằm giữa phía Bắc và phía Nam, vùng này gồm các tỉnh Hồ Nam, Giang Tây, Phúc Kiến ngày nay. Nam Việt thì gồm có các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, và xưa kia người Trung Quốc còn gộp phần lớn Bắc Việt Nam ngày nay, chủ yếu là đồng bằng sông Hồng khi Triệu Đà lên làm vua ở vùng đất này đã gọi nước của mình là Nam Việt. Hoa Nam là đất xưa của người Bách Việt, một tên mà người Hán dùng để gọi chung các tộc người ở phía Nam Trung Quốc thời xưa, từ Bách Việt (Một trăm tộc Việt) lần đầu tiên thấy chép trong Sử Ký (Ngô Khởi Truyện) của Tư Mã Thiên.

Có những tộc Việt thường được nhắc đến như sau : Dương Việt ở Giang Tây ngày nay, Câu Việt ở Giang Tô và Bắc Triết Giang ngày nay, Đông Việt ở Nam Triết Giang ngày nay, Mân Việt ở Phúc Kiến ngày nay, Nam Việt ở Quảng Đông ngày nay, Quế Việt ở Quảng Tây ngày nay, Điền Việt ở Vân Nam ngày nay, Lạc Việt và Âu Việt ở Bắc Việt Nam ngày nay. Những cộng đồng người này, đã có một nền sản xuất nông nghiệp lúa nước riêng, có một quan hệ văn hóa tộc người gần gũi với nhau, có thể nói là thuộc văn hóa Đông Nam Á ngày nay. Họ đã bị Đến Chế Tần (thế kỷ III trước công nguyên) rồi Hán (thế kỷ III trước công nguyên và thế kỷ III sau công nguyên) chinh phục. Lần lượt các tộc Việt đã bị Hán hóa. Riêng tộc Lạc Việt và Âu Việt bị Triệu Đà, là người Trung Quốc xâm chiếm từ năm 179 trước công nguyên, và csc triều đại sau của Trung Quốc liên tiếp thống trị cho đến năm 938 mới giành lại được chủ quyền. Cư dân vùng Hoa Nam, chủ yếu thuộc các tộc người Việt, trồng lúa nước, nuôi trâu, đúc trống đồng, nên thuộc khu vực văn hóa Đông Nam Á.

Đài Loan

Đài Loan là một hòn đảo ở biển phía Đông Nam Trung Quốc, lãnh thổ của 7 bộ lạc cư dân bản địa nói tiếng Malayo – Polynesian (Mã Lai – Đa Đảo) một ngôn ngữ đặc trưng ở vùng biển phía Đông của Đông Nam Á. Bộ lạc người Ami có 90,000 người (1975) có tiếng nói riêng. Họ làm nương rẫy, nuôi chó để đi săn, nuôi heo và gà để cúng, mặc quần áo bằng vỏ cây. Người Ami gồm 50 thị tộc, theo chế độ mẫu huệ, cư trú về phía mẹ. Kết cấu chính trị là nhị nguyên, một nửa là quyền uy thế tục của những nhóm đàn ông theo lứa tuổi, một nửa là quyền uy nghi lễ thuộc về họ mẹ gọi là Kakitaan, tức là những gia đình thầy cúng mẹ truyền con nối, nhưng trong đó đàn ông chứ không phải đàn bà làm vai trò thầy cúng.

Sự kiểm soát xã hội không dựa vào luật mà dựa vào việc trả thù nợ máu của những người thân với người chết. Chiến tranh với các nhóm khác đưa đến việc săn đầu người. Việc lấy đầu người xãy ra trong lễ Irisin tiến hành theo sau khi thu hoạch kê, nhằm cầu mong sự sinh sôi và đổi mới. Làng người Ami xưa được bảo vệ chống kẻ thù bằng cọc tre và hầm hào. Hay như bộ lạc người Puyuma, có khoảng 6,000 người (1975). Họ vốn là cư dân làm nông, săn bắt và đánh cá. Đất là sở hữu của các gia đình quý tộc. Làng trung bình có khoảng 600 người. Mỗi làng có một đơn vị độc lập về chính trị, và hầu như theo chế độ nội hôn. Quyền lãnh đạo kế thừa trong các gia đình tù trưởng.

Họ theo chế độ mẫu hệ, và cư trú về phía mẹ. Tổ chức xã hội theo chế độ phân đôi (Moiety), nửa này tấn công nửa kia. Có các nhóm chia theo lứa tuổi, hoạt động như là những trường huấn luyện quân sự. Từ 18 đến 22 tuổi, nam giới sống tách rời phụ nữ trong những ngôi nhà dành riêng cho đàn ông và luyện tập đánh nhau. Đến 22 tuổi, thì cưới vợ và rời khỏi ngôi nhà dành cho đàn ông, và về ở với gia đình vợ. Người Puyuma cho rằng, con người có ba hồn : một ở đầu, hai ở hai vai. Người ốm là do hồn ở vai bỏ đi. Thầy cúng chữa bệnh bằng cách gọi hồn ở vai về. Người chết là vì hồn ở đầu bỏ đi. Đây là hai trong bảy bộ lạc cư dân gốc ở Đài Loan. Họ có những đặc điểm ngôn ngữ văn hóa như người Đông Nam Á.

Từ thế kỷ XVI, bọn cướp biển Trung Quốc đã đến Đài Loan. Đến thế kỷ XVII, người Trung Quốc mới thực sự ảnh hưởng đến xã hội và văn hóa Đài Loan. Từ đó, người Hán và người người Hán Hóa đã mang đến nhiều yếu tố văn hóa ngoại lai và tiến hành đồng hóa sâu sắc cư dân ở đây. Đầu thế kỷ XIX, có hai triệu người Hán sinh sống ở đây, và phần lớn người Đài Loan gốc đã bị đẩy lên núi hoặc bị đồng hóa. Vào giữa những năm 1960, có 13 triệu người sống ở Đài Loan, và 1/3 số người đó sống ở các đô thị. Ngày nay, nhiều nhóm người bản địa của Đài Loan không còn xác định được nữa.

Châu Đại Dương

Châu Đại Dương là tên gọi chung của những hòn đảo to nhỏ nằm rải rác trên Thái Bình Dương, ở giữa Châu Á phía Đông, Châu Mỹ phía Tây và nước Úc phía Nam. Theo các nhà địa lý, có thể gộp các hòn đảo đó thành các quần đảo như Malaysia (Mã Lai), Melanesia (Đảo Đen), Polynesia (Đa Đảo), Micronesia (Đảo Nhỏ). Nhìn chung, đa số họ thuộc giống người Mã Lai, có pha trộn với người Indonesia, là cư dân gốc Đông Nam Á có lẽ đã ở từ trước. Những người Polynesian và người Micronesian chủ yếu là do sự pha trộn hai giống người trên mà thành. Về ngôn ngữ, họ nói thứ tiếng thuộc ngữ hệ Malayo – Polynesian (Mã Lai – Đa Đảo) là một trong những ngôn ngữ chính ở Đông Nam Á. Qua đặc điểm nhân chủng, và tiếng nói, Châu Đại Dương thuộc về khu vực văn hóa Đông Nam Á. Cụ thể hơn, bốn vùng quần đảo trên có vị trí và cư dân như sau :

– Polynesia (Đa Đảo) nằm ở phía Đông Thái Bình Dương, phía Đông là Châu Mỹ, phía Nam là nước Úc, phía Tây là Micronesia và Melanesia. Có khoảng 2 triệu dân sinh sống. Vùng này có rất nhiều đảo nên gọi là Đa Đảo. Cư dân Đa Đảo có nguồn gốc ở các đảo gần Malaysia như Dayak, Alfuru. Có một số người rất giống người Mã Lai của Indonesia. Họ chủ yếu làm nông nghiệp, đôi khi đánh cá, đi săn. Họ sinh sống bằng rễ cũ, trái cây hơn là cá.

– Melanesia (Đảo Đen) nằm ở phía Bắc nước Úc, và phía Đông Malaysia. Cư dân là những người da không đen lắm, cao lớn, đầu hẹp, mặt rộng, mũi thẳng, và rộng, má dô, tóc quăn hoặc thẳng. Họ nói tiếng Melanesian là một trong ba nhóm của ngữ hệ Malayo – Polynesian (Mã Lai – Đa Đảo) thuộc Đông Nam Á.

– Malaysia nằm ở Tây Nam Thái Bình Dương, có những đảo nay thuộc Đông Nam Á như Timor (Maluku), Sulawesi (Celebes), Kalimantan (Borneo), Philippines.

– Micronesia (Đảo Nhỏ) gồm một số đảo nhỏ nằm giữa Malaysia ở phía Tây, Melanesia ở phía Nam và Polynesia ở phía Đông. Có các đảo chính như Marianne, Palaos, Carolines, Marshall, Gibbert. Cư dân có nước da sáng, chủ yếu làm nghề đi biển đánh cá.

Xét về vị trí địa lý, các nhà khoa học đã ghép chủng Đông Nam Á và Châu Đại Dương làm một. Theo Christine White, tên thực là Kristin Pelzer thì nguồn gốc của người Hawaii thuộc quần đảo Polynesia ở Đông Thái Bình Dương là người Việt Nam.

Các đảo Andaman và Nicobar

Đây là hai quần đảo nằm trong vịnh Bengal, cách xa bờ biển phía Đông Nam Ấn Độ hơn một nghìn cây số, nhưng lại rất gần bở biển phía Nam của Myanmar và phía Tây của ThaiLand và Malaysia. Xét về vị trí địa lý, và nhân chủng, các quần đảo trên thuộc khu vực văn hóa Đông Nam Á. Andaman là những mô đất nối dài của dãy Arakan thuộc Myanmar. Xét về tộc người, họ cũng thuộc các chủng người Đông Nam Á. Người Andaman là người Onge và các nhóm người khác giống Negrito là một nhóm người cổ, hãy còn lại một ít ở vài nơi trong vùng Đông Nam Á. Họ sống chủ yếu bằng hái lượm, săn bắt, lấy mật ong, đánh cá. Họ biết làm đồ gốm, đan lưới, làm thuyền, giỏi sử dụng cung tên.

Người Nicobar là hỗn chủng giữa các giống người Miến, Mã Lai, Môn và Shan. Họ trồng cây ăn quả, rau, dừa, sản xuất cơm dừa, dầu dừa. Tiếng nói của họ thuộc các nhóm Mã Lai. Người ARập đã biết đến Andaman và Nicobar từ thế kỷ IX, khi đi buôn bằng thuyền trên biển để đến Sumatera. Người Đan Mạch đã đến đây vào thế kỷ XVIII. Rồi người Anh ở Ấn Độ dùng làm nơi nhốt tù nhân. Đến khi Ấn Độ giành được độc lập vào năm 1947, thì hai quần đảo trên thuộc Ấn Độ. Tuy chính trị thuộc về quốc gia Ấn Độ, nhưng văn hóa thuộc về Đông Nam Á.

Đông Bắc Ấn Độ

Cư dân chủ yếu của Ấn Độ thuộc hai nhóm chính : Dravidian giống người bản địa lâu đời của Ấn Độ. Aryan giống người có nguồn gốc Nam Âu, xâm nhập vào Ấn Độ khoảng 1500 năm trước công nguyên. Nhưng trên vùng đất Đông Bắc Ấn, do nằm gần các nước Đông Nam Á nên có cư dân thuộc khu vực Đông Nam Á.

– Người Munda : là một nhóm dân tộc người cư trú rải rác ở Đông Bắc Ấn Độ, khoảng 4 tới 5 triệu người, nhưng không lập thành một quốc gia riêng. Họ có quan hệ với nguồn Môn (là cư dân cổ ở vùng Nam Myanmar và Nam ThaiLand ngày xưa, có văn hóa rất phát triển) ở Đông Nam Á. Họ nói một ngôn ngữ gần với ngôn ngữ Môn, thuộc ngữ hệ Nam Á (Austroasiatic). Phong tục, tập quán của người Munda gần giống với người Môn. Họ có tầm vóc tương đối nhỏ, nước da đậm, tóc quăn mạnh, mũi rộng, chứng tỏ người Munda, có dòng máu Negrito ở Đông Nam Á.

– Bang Assam : tên Assam bắt nguồn ở Ahom, tên một bộ lạc Thái theo Phật Giáo từ Bắc ThaiLand đến chinh phục vào năm 1228, lập thành vương quốc với tên gọi mới này. Triều đại này kéo dài từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XIX. Assam nằm trên cao nguyên dọc theo sông Brahmaputra. Đó là một vương quốc hùng mạnh, nhiều lần người Mughal (là một nhánh người Ấn Độ theo đạo Islam có nguồn gốc Mông Cổ, Thổ Nhỉ Kỳ và Ba Tư) chinh phục không thành. Dần dần, Assam mở rộng quyền lực về phía Đông, đặt quyền thống trị lên vương quốc Naga ở Cachar, thủ tiêu kinh đô Dimapur của nó năm 1536. Phía Nam Assam ở Meghalaya (chỗ trú ngụ của mây) có ba nhóm bộ lạc, trong đó : người Garos ở phía Tây thuộc Tây Tạng, người Khasis ở giữa thuộc nhóm Môn – Khmer có quan hệ với người Shan ở Myanmar, người Pnar có quan hệ với người Khasis. Nhìn chung, Assam chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Đông Nam Á.

– Nagaland : người Naga là người ở thung lũng. Ngày xưa, người thuộc bộ lạc Cacharis lấy Dimapur làm căn cứ để xuất phát, đi càn quét vương quốc Assam và Myanmar. Đến cuối thế kỷ XVII, người Ahom ở Assam đặt quyền lực lên trên Cachar. Đến khi người Myanmar xâm lược Assam thì những cuộc lùng quét của người Naga dừng lại. Cư dân gồm nhiều bộ lạc, thuộc nhóm Tạng – Miến. Các tộc người chính là Aos, Angamis, Konyaks.

Madagascar

Madagascar là một hòn đảo nằm phía Đông Nam Châu Phi, rất xa khu vực Đông Nam Á về phía Tây. Về vị trí địa lý nó thuộc về Châu Phi, nhưng về văn hóa nó thuộc về Đông Nam Á. Theo truyền thuyết, cư dân đầu tiên là những người Nains, người Kimos. Sau đó, có lẽ từ trước công nguyên, người Mã Lai từ Đông Nam Á, đã đến đây làm thay đổi tính chất cư dân của đảo. Người Mã Lai đến đông đúc và thường xuyên, hoạt động nhộn nhịp trong việc chuyên chở trên biển, làm cho các nhà địa lý và thủy thủ thời đó thường nghĩ rằng Madagascar là một phần của Đông Nam Á. Cư dân ở đây nói một thứ tiếng Austronesian (Nam Đảo) của Đông Nam Á. Tiếng nói của dân đảo là Malgache thuộc nhóm các ngôn ngữ Malayo – Polynesian. Nó gần với tiếng Battak, một phương ngữ ở Sumatera. Cư dân phát triển một nền văn minh trồng lúa, và chăn nuôi bò. Vì vậy, đối với người Madagascar hai thứ quý nhất là gạo và bò Zebu.

Tóm lại, khu vực văn hóa Đông Nam Á gồm các vùng sau : 11 nước Đông Nam Á hiện tại, Nam Trung Quốc (Hoa Nam), Đài Loan, Châu Đại Dương, Andaman và Nicobar, Đông Bắc Ấn Độ, Madagascar.

Đặc điểm địa lý ảnh hưởng đến văn hóa Đông Nam Á

Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo

Đông Nam Á bao gồm hai vùng lãnh thổ khác nhau rõ ràng. Một phần là lục địa, gồm các nước Myanmar, ThaiLand, Laos, Campuchia, Việt Nam. Một bộ phận còn lại là hải đảo, gồm các nước Malaysia, Singapore, Indonesia, Đông Timor, Philippines, Brunei. Hai vùng do điều kiện địa lý khác nhau, nên văn hóa có những chỗ khác nhau. Các nước lục địa thiên về nông nghiệp là chính. Những con sông dài chảy chủ yếu từ Bắc xuống Nam hoặc từ Tây Bắc xuống Đông Nam (sông Hồng) đã tạo ra những đồng bằng phù sa màu mỡ thuận lợi cho việc trồng lúa. Những con sông đó, khi chảy ra đến gần biển, đã tạo nên những châu thổ rộng lớn như châu thổ của các sông Hồng, sông Mêkông, sông Chao Phraya, hay sông Irrawadi. Đó là những vùng phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng thành phố, mở mang giao thông. Trên cơ sở một nền nông nghiệp phát triển và giao thông thuận lợi, các quốc gia xuất hiện sớm.

– Việt Nam, mầm mống quốc gia đã xuất hiện vào thiên niên kỷ thứ I trước công nguyên, thời các vua Hùng. Nhà nước chính thức ra đời với triều vua Thục Phán An Dương Vương, năm 208 trước công nguyên, mang tên nước Âu Lạc. Nhà nước trung đại ra đời năm 1010 với Lý Thái Tổ.

– Cambodia gắn thời kỳ sử sớm với vương quốc Phú Nam, từ thế kỷ I đến thế kỷ VI. Quốc gia đích thực của người Khmer bắt đầu từ thế kỷ VI, gọi là Chân Lập. Và đến thế kỷ IX thì phát triển thành đế chế Angkor.

– Thailand bắt đầu với nước Sukhothai (= Bình minh của hạnh phúc) ở Bắc Thái Lan vào năm 1238. Hơn một thế kỷ sau, vua Ramatibodi thành lập thủ đô Ayutthaya ở miền đồng bằng trung lưu sông Chao Phraya. Triều đại Chakri lại dời đô về Bangkok năm 1782.

– Myanmmar chính thức thành lập nước năm 1044 khi vua Anoratha lên cầm quyền ở Pagan, tập hợp nhiều tiểu quốc rời rạc lại thành một quốc gia dân tộc.

– Laos chính thức ra đời khi vua Phà Ngừm tiến hành cuộc chinh phạt thống nhất đất nước kết thúc thắng lợi vào năm 1353, gọi tên nước là Lạn Xạng (Triệu Voi).

Do quốc gia xuất hiện sớm nên ngôn ngữ thống nhất quốc gia cũng xuất hiện sớm. Tiếng Việt đã ra đời từ thế kỷ thứ X. Tiếng Khmer đã hình thành từ tiếng Chân Lập, và trở nên phổ biến từ thế kỷ XVII – XVIII. Các nước Đông Nam Á lục địa sớm tiếp thu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, trong đó chủ yếu là Phật Giáo, và vẫn tiếp tục theo Phật Giáo đến tận ngày nay. Trong khi đó, thì các nước Đông Nam Á hải đảo do điều kiện địa lý quy định lại có những yếu tố khác. Trước tiên, vì ở giữa biển nên hoạt động trên biển mạnh hơn, dân cư lan toản rộng hơn. Người Mã Lai không những lan tỏa về phía Đông thuộc Châu Đại Dương, mà còn lan tỏa sang phía Tây đến tận Madagascar ở Đông Nam Châu Phi. Họ là những cư dân thành thạo trong nghề đi biển.

Cư dân Đông Nam Á hải đảo đã lợi dụng đường giao thông trên biển để mở rộng buôn bán với bên ngoài, nên thương mại trên biển rất phát triển. Nhờ đường biển mà Đông Nam Á tham gia vào đường buôn giữa Đông và Tây, từ La Mã, Ả Rập, Ấn Độ, đến Trung Quốc, Nhật Bản. Người Mã Lai ở vào vị trí thuận lợi trên biển, nên đã có vai trò quan trọng trong giao dịch đi lại. Tuy vậy, Đông Nam Á hải đảo nằm rải rác trên những quần đảo, nên mặc dù văn hóa các dân tộc phát triển, nhưng một quốc gia thống nhất thì lại ra đời khá muộn, và có phần do ảnh hưởng của thời kỳ thuộc địa Phương Tây. Philippines trở thành một quốc gia thống nhất mới từ thế kỷ XVI, dưới sự thống trị của Tây Ban Nha, Indonesia lại còn muộn hơn, đến đầu thế kỷ XX mới trở thành một quốc gia thống nhất sau khi giành được độc lập từ tay Hà Lan.

Quốc gia thống nhất ra đời muộn nên ngôn ngữ chính thức của quốc gia cũng ra đời muộn. Philippines thời thuộc Tây Ban Ban sử dụng ngôn ngữ Tây Ban Nha làm tiếng thống nhất quốc gia. Đến đầu thế kỷ XX, khi bị Mỹ cai trị thì đổi sang dùng tiếng Anh làm ngôn ngữ chính thức. Gần đây, khi muốn chọn một tiếng nói bản ngữ làm ngôn ngữ quốc gia, thì tiếng nói của người Tagal ở xung quanh thủ đô Manila được chú ý. Do đấy, tiếng Tagalog đang có xu hướng phát triển để trở thành tiếng nói chính thức của Philippines. Indonesia mới trở thành quốc gia thống nhất vào thế kỷ XX, và tiếng nói chính thức của quốc gia cũng mới được chọn là tiếng Mã Lai.

Về văn hóa và tôn giáo, trước kia các nước hải đảo cũng chịu ảnh hưởng của văn hóa và chữ viết Ấn Độ, cũng theo Ấn Độ và Phật Giáo. Từ thế kỷ XV trở đi, Islam giáo (Hồi Giáo) và văn hóa Arập đã lan truyền vào vùng này, và dần dần thay thế văn hóa Ấn Độ. Ấn Độ và Phật Giáo. Ngày nay, người Mã Lai ở Malaysia và người Indonesia chủ yếu theo Islam giáo, và văn hóa ARập. Indonesia là nước theo Islam giáo lớn nhất trên thế giới. Chỉ có đảo Bali là còn giữ lại dấu vết văn hóa Ấn Độ. Philippines bị Tây Ban Nha xâm chiếm làm thuộc địa từ thế kỷ XVI, nên là nước chịu ảnh hưởng của Phương Tây sớm nhất và là nước theo Thiên Chúa Giáo lớn nhất Đông Nam Á.

Sự chia cắt địa lý tự nhiên

Đối với Đông Nam Á lục địa, Roland Breton trong cuốn Geographie des civilisations (Địa lý của các nền văn minh) có nhận xét về sự chia cắt tự nhiên của địa lý Đông Nam Á như sau : Bán đảo Đông Dương khác với với bán đảo Ấn Độ và Trung Quốc, không tạo thành một không gian rộng lớn gồm các vùng đồng bằng và cao nguyên, thuận lợi cho sự ra đời sớm của một nền văn minh lớn. Một vùng đất gồm có năm thung lũng hẹp và gồ ghề, chỉ mở rộng thành những vùng châu thổ khi các con sông chạy sát tới biển, nên có những trở ngại cho giao thông nội địa. Các dãy núi lớn cắt dọc các đồng bằng thung lũng, cũng nhấn mạnh thêm sự khác nhau về văn hóa chính trị trong khu vực.

Mặt khác, gốc của bán đảo Đông Nam Á là ở cao nguyên Tây Tạng, đã làm cho nó bị cô lập, đúng hơn là làm cho nó khó liên hệ với phần còn lại của Châu Á. Không có những ảnh hưởng văn hóa rõ rệt, cũng không có những con đường lớn để các dân tộc có thể đi qua, khác với vai trò sợi dây rốn của những con đường băng qua Trung Á đối với Ấn Độ hay Trung Quốc. Nói cách khác là không có con đường xuyên khu vực. Chỉ có một số dân miền núi có thể thâm nhập xuống các vùng châu thổ ở Phương Nam. Vì vậy, ảnh hưởng của các nền văn minh đều từ biển đi vào. Còn đối với Đông Nam Á hải đảo thì khác. Quần đảo Indonesia có tất cả hơn 13,677 hòn đảo và 360 bộ lạc, tộc người. Sự gắn kết giữa các nhóm tộc người thành một dân tộc quốc gia thống nhất, vẫn còn đang trong quá trình xây dựng.

Philippines cũng là một quần đảo gồm 7,107 hòn đảo. Dân cư sinh sống trên 300 hòn đảo, trong đó có 11 hòn đảo lớn, dân cư tập trung. Có quãng từ 70 đến 100 nhóm tộc người. Về điều kiện địa lý tự nhiên, Đông Nam Á là một khu vực có sự chia cắt khá rõ. Có sự chia cắt giữa các quốc gia vì sông núi và biển. Có sự chia cắt trong từng quốc gia vì biển. Do vậy, tuy văn hóa Đông Nam Á về cơ bản có những nét tương đồng, nhưng cũng có nhiều nét khác biệt nhau.

Văn hóa khác nhau theo độ cao thấp của nơi cư trú

Ở Đông Nam Á có sự phân biệt về văn hóa tùy nơi ở cao hay thấp. Thông thường có phân biệt như sau : người ở cao làm nương rẫy và trồng lúa khô, người ở thấp trồng lúa nước, người ở cao tập hợp thành cộng đồng nhỏ như làng hay bản hay buôn, người ở thấp tập hợp thành cộng đồng lớn như quốc gia hay mường, người ở cao văn hóa bị chia cắt mạnh, người ở thấp văn hóa giao lưu lan tỏa rộng hơn, người ở cao văn hóa chậm biến đổi, người ở thấp văn hóa phát triển nhanh hơn. Trước đây, trong thời kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, muốn đoàn kết dân tộc, nước Lào đã gọi chung cư dân sống trên đất Laos là người Lào, không phân biệt là người thuộc dân tộc nào. Nhưng để phân biệt về mặt cư trú và văn hóa, học đã gọi người ở trên cao là Lào Xủng ( = Cao Đỉnh ) người ở sườn núi là Lào Thưng ( = Lưng Chừng Núi ) và người ở dưới đồng bằng là Lào Lùm ( = Thấp).

Ở Việt Nam, cũng thường có sự phân biệt văn hóa của cư dân tùy theo độ cao thấp của nơi cư trú của họ. Các dân tộc ở trên đỉnh núi, trên những nẻo cao có người Mèo, Dao, … Các dân tộc ở thung lũng chân núi có người Thái, Mường, … Những dân tộc ở trên cao nguyên có người Êđê, Jarai, … Những dân tộc ở dưới thấp có người Việt, Khmer, Chăm, … Nhìn từ góc độ lịch sử, Đông Nam Á cũng bị chia cắt thành hàng chục nhà nước dân tộc, với mỗi nền văn hóa khác nhau. Mỗi nền văn hóa đó đều khác nhau bởi các ảnh hưởng bên trong của mỗi nước, và bởi sự cạnh tranh ảnh hưởng từ bên ngoài của Trung Quốc, Ấn Độ, ẢRập, các nước Châu Âu, … Khu vực này, do đó, tạo thành địa bàn của một nền văn minh riêng, và trong lịch sử là một vùng mà các nền văn minh lân cận hoặc xa xôi thường cạnh tranh giành giật.

Đông Nam Á là một vùng văn hóa hết sức đa dạng, nhiều chủng tộc, nhiều ngôn ngữ, nhiều nét khác biệt trên một nền văn hóa tương đồng chung. Là một vùng văn hóa trải dài cả trên đất liền và ngoài biển, địa hình chia cắt, rộng lớn cả nước Mỹ. Đông Nam Á là một khu vực địa lý văn hóa và chính trị phức tạp vào bậc nhất trên thế giới. Đông Nam Á không giống như Trung Quốc, nơi những yếu tố địa lý thuận lợi hơn dễ tạo nên sự thống nhất về chính trị, và sự đồng nhất về văn hóa, cũng không giống như Ấn Độ, tuy có nhiều sự khác nhau về địa lý nhưng cũng thuận lợi hơn để hình thành một sự thống nhất về văn hóa. Đông Nam Á luôn tiềm ẩn sự khác nhau về địa lý, tạo thành sự khác nhau về văn hóa, chính trị, tuy rằng trên một nền tảng tương đồng. Cho nên, từ thế kỷ 14, nhà thơ Jawa là MPU Tantular đã nói : “Bhinneka Tunggal Ika” nghĩa là Đa Dạng Trong Sự Thống Nhất.

Những yếu tố địa lý quan trọng ở Đông Nam Á

Ở Đông Nam Á, có những yếu tố địa lý quan trọng là Đất, Sông, Biển, Gió mùa, Khí hậu nhiệt đới. Năm yếu tố đó tạo nên những đặc điểm chung của văn hóa vùng, như sau :

– Đất : đất đai ở Đông Nam Á nhiều mưa, nhiều nắng nên thích hợp với nông nghiệp, đặc biệt là cây lúa nước. Nó không có đồng cỏ lớn nên chỉ có chăn nuôi nhỏ, và chủ yếu là để phục vụ cho trồng trọt.

– Sông : sông nước có một địa vị đặc biệt quan trọng trong đời sống của cư dân Đông Nam Á. Con người thường sinh sống gần sông suối. Hai bên các sông lớn thường phát hiện được các di chỉ của người xưa. Sông cũng là con đường giao thông quan trọng từ xưa đến nay ở Đông Nam Á. Thuyền và phonwg tiện di chuyển chính, chứ không phải là xe cộ. Cư dân Đông Nam Á không biết tự mình chế tạo bánh xe.

– Biển : Đông Nam Á có biển rộng nên cư dân ven biển có nghề đi biển, đánh cá biển, và buôn bán trên biển. Cư dân Đông Nam Á vùng biển có diện tích phân bố rộng lớn, và có điều kiện sớm tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế trên biển giữa Đông và Tây. Laos là nước duy nhất không có biển ở Đông Nam Á.

– Gió mùa : gió mùa là loại gió thổi theo mùa theo hai chiều ngược nhau. Gió này tạo thành mùa mưa tập trung, thuận lợi cho nông nghiệp. Gió này cũng tạo nên sức đẩy cho thuyền buồm đi lại theo mùa trên biển. Nó cũng tạo ra hai mùa là mùa mưa và mùa khô ở Đông Nam Á.

– Khí hậu nhiệt đới : Đông Nam Á có khí hậu ấm áp, nên cư dân thích sống ngoài trời, quần áo nhẹ nhàng, hay đi chân đất.

Nguyễn Tấn Đắc
https://tampacifictravel.com

Các tìm kiếm liên quan đến văn hóa đông nam á

  • lịch sử đông nam á
  • dân số đông nam á
  • đông nam á biển đảo
  • đảo lớn nhất đông nam á
  • vùng văn hóa đông nam á
  • lịch sử văn hóa đông nam á
  • bài giảng văn hóa đông nam á
  • sự khác biệt của các quốc gia đông nam á

 

Các tìm kiếm liên quan đến đông nam á

  • đông nam á lục địa
  • các quốc gia đông nam á
  • tên các nước đông nam á
  • dân số các nước đông nam á
  • lịch sử các nước đông nam á
  • diện tích các nước đông nam á
  • các nước đông nam á và thủ đô
  • những đảo lớn nhất đông nam á
  • hiệp hội các quốc gia đông nam á
  • danh sách các quốc gia đông nam á
  • tên các nước đông nam á bằng tiếng anh

 

Link topic https://tampacifictravel.com/khu-vuc-van-hoa-dong-nam-a-co-nhung-gi-dac-sac-nhat.html

 

error: Alert: Content is protected !!